Thành phố Sơn La
01-10-2017 05:35:00

   Thành phố Sơn La là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế của tỉnh Sơn La. Nằm ở tọa độ 21015' - 21031' Bắc và 103045' - 104000' Đông, cách Hà Nội 302 km về phía Tây Bắc. Phía Tây và phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía Nam giáp huyện Mai Sơn. Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố Sơn La với thành phố Điện Biên Phủ và thành phố Hòa Bình

Trung tâm thành phố Sơn La

   Với tổng diện tích tự nhiên 32.493 km², dân số 98.751 người, là nơi hội tụ của 12 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 53,4%; dân tộc Kinh chiếm 43%; dân tộc Mường chiếm 0,8%; dân tộc Mông chiếm 0,4%;  còn lại là các dân tộc khác như : Dao, Kháng, Khơ Mú, Hoa, Lào; Sinh Mun, La Ha chiếm 2,4%, mật độ dân số phân bố tương đối đều.

   Thành phố có 12 đơn vị hành chính gồm 7 phường: Quyết Tâm, Quyết Thắng, Tô Hiệu, Chiềng Lề, Chiềng Sinh, Chiềng An, Chiềng Cơi và 5 xã gồm Chiềng Cọ, Chiềng Đen, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La. Với tổng số 169 tổ, bản, tiểu khu (trong đó có:  7 bản tái định cư Thuỷ điện Sơn La mới được thành lập).

   Thành phố Sơn La có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi tạo điều kiện cho thành phố trong việc lưu thông hàng hoá, trao đổi thông tin kỹ thuật, tiếp thu các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.

   Thành phố Sơn La nằm trong vùng có quá trình Katser hóa mạnh, địa hình chia cắt phức tạp, núi đá cao xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo. Diện tích đất canh tác nhỏ hẹp, thế đất dốc từ 250 trở lên chiếm tỷ lệ thấp, độ cao trung bình khoảng 700m so với mực nước biển. Một số khu vực có các phiêng bãi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tập trung ở các xã Chiềng Ngần, Chiềng Đen, Chiềng Xôm và phường Chiềng Sinh. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình năm là 21,10C. Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình cả năm 1.346 mm. Lượng mưa chủ yếu tập trung vào 3 tháng (6, 7, 8) chiếm 85% lượng mưa cả năm. Độ ẩm trung bình 85%.

* Lịch sử hình thành

   Thành phố Sơn La trước năm 2008 là Thị xã Sơn La. Địa phận Thị xã Sơn La được chia ra từ châu Mường La. Châu Mường La xưa kia có 5 mường phìa: mường phìa Mường La hay còn gọi là Chiềng An(1), mường phìa Mường Bú (Chiềng Biên); mường phìa Mường Trai (Chiềng Nghiêm); mường phìa Mường Chiến (Ngọc Chiến) và mường phìa Mường Chùm. Mường phìa Chiềng An còn gọi là Mường phìa trong, là trung tâm lỵ sở, nơi châu mường đóng. Các mường phìa khác là Mường phía ngoài. Như vậy, lãnh thổ Thị xã là mường phìa Chiềng An, một trong năm mường phìa của châu Mường La ngày xưa.

   Năm 1886, thực dân Pháp đánh chiếm Tây Bắc. Ngày 25-5-1886, Tổng Trú sứ Trung - Bắc kỳ ra nghị định chuyển châu Sơn La thuộc phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hóa thành một cấp tương đương với cấp tỉnh do một sĩ quan với cương vị Phó công sứ cai trị. Tháng 3-1888, sau khi chiếm được Tây Bắc, thực dân Pháp lập trung khu Vạn Bú - Nghĩa Lộ, đặt trụ sở tại bản Pá Giạng, tổng Hiếu Trai. Ngày 20-8-1891, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đưa địa hạt Sơn La vào địa bàn của Đạo quan binh thứ Tư(2), thủ phủ đặt tại Sơn La. Ngày 10-10-1895, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ tiểu quân khu Vạn Bú và Lai Châu nhập thành tỉnh Vạn Bú(3). Việc chuyển Vạn Bú sang chế độ dân sự chính là thời điểm ra đời của tỉnh Sơn La, tỉnh lỵ đặt tại bản Pá Giạng, xã Ít Ong, châu Mường La. Ngày 23-8-1904, toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển tỉnh lỵ Vạn Bú về Chiềng Lề (thuộc châu Mường La) và đổi tên tỉnh Vạn Bú thành tỉnh Sơn La. Năm 1908 chính quyền thuộc địa Pháp cho xây dựng Toa sư, nhà Giám binh Trại lính, các công sở, nhà tù trên đồi Khau Cả, tỉnh lỵ vẫn đặt tại đây cho đến ngày nay.

 


Vị trí của tiểu quân khu Vạn Bú trên bản đồ các đạo quan binh (1892 - 1895) thời thuộc Pháp

 

   Ngày 28-6-1909, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách các châu: Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Điện Biên, Châu Lai và phủ Châu Luân của tỉnh Sơn La để thành lập tỉnh Lai Châu. Tỉnh Sơn La còn lại 6 châu: Mường La, Châu Yên, Mai Sơn, Châu Thuận, Phù Yên, Châu Mộc.

   Sau khi chuyển Sơn La sang chế độ dân sự, chính quyền thực dân đã xúc tiến ngay việc thành lập và hoàn chỉnh bộ máy cai trị của chúng từ tỉnh cho đến các bản mường, phục vụ cho việc áp bức về chính trị, khai thác, bóc lột về kinh tế.

   Tổ chức bộ máy cai trị của thực dân Pháp, phong kiến tay sai ở tỉnh Sơn La: Chính quyền thuộc địa cấp tỉnh lúc đầu là Phái bộ Chính phủ rồi Tòa công sứ đặt tại tỉnh lỵ. Đứng đầu Tòa công sứ là viên Công sứ người Pháp. Chính quyền thuộc địa tiếp tục duy trì bộ máy hành chính phong kiến để thông qua đó thực thi các chính sách cai trị của chúng bằng cách biến các quan lại địa phương từ cấp tỉnh xuống cấp châu, phủ thành những quan chức ăn lương, hưởng đặc quyền, đặc lợi...

   Tháng 8-1945, nhân dân các dân tộc tỉnh lỵ Sơn La dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh đã cùng với nhân dân trong toàn tỉnh đứng lên khởi nghĩa đánh đuổi đế quốc Pháp và phát xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân vào ngày 26-8-1945.

   Tháng 12-1946, khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân các dân tộc vùng tỉnh lỵ Sơn La đứng lên cùng cả nước anh dũng chiến đấu, giành lại tự do độc lập.

   Năm 1952 giải phóng Tây Bắc, các cơ quan hành chính của tỉnh Sơn La đóng tại phố Chiềng Lề. Chiềng Lề lúc này giữ vị trí của một thị trấn, là trung tâm buôn bán nhỏ, nằm gọn dưới chân đồi Khau Cả, trước đó là trung tâm hành chính đóng bộ máy cai trị của thực dân Pháp.

   Năm 1955, Khu tự trị Tây Bắc được thành lập, các cơ quan khu tạm thời đóng trụ sở tại thị trấn Thuận Châu. Năm 1959, theo đề nghị của Ban Chấp hành Khu ủy Tây Bắc và ủy ban hành chính Khu tự trị Thái - Mèo, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chuẩn y cho khu xây dựng hạ tầng cơ sở ở thị trấn châu Mường La thành đơn vị hành chính cấp thị xã đầu tiên ở khu Tây Bắc, đồng thời trụ sở các cơ quan khu chuyển về đây. Ngày 26-10-1961, theo Quyết định số 173-CP của Hội đồng Chính phủ, Thị xã Sơn La - thị xã đầu tiên của miền Tây Bắc thành lập. Nơi đây trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của Khu tự trị Tây Bắc. Lúc bấy giờ địa bàn Thị xã Sơn La bao gồm: Thị trấn Chiềng Lề(4), xã Chiềng Cơi, bản Họ Hẹo và bản Lầu của xã Chiềng An thuộc châu Mường La.

Quyết định 173-CP ngày 26/10/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập thị xã Sơn La

 

   Tháng 10-1962, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa III quyết định đổi tên Khu tự trị Thái - Mèo thành Khu tự trị Tây Bắc; thành lập lại 2 tỉnh: Sơn La, Lai Châu và lập tỉnh mới Nghĩa Lộ. Các cơ quan của khu Tây Bắc và tỉnh Sơn La đều đóng trên địa bàn Thị xã Sơn La.

   Thời kỳ chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, Thị xã Sơn La trở thành trọng điểm bắn phá, hủy diệt của máy bay địch; các cơ quan, trường học, cơ sở sản xuất của khu và tỉnh đều sơ tán khỏi địa bàn Thị xã. Sau Hiệp định Pa ri về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam được ký kết ngày 27-01-1973, Ban Thường vụ Khu ủy Tây Bắc ra nghị quyết(5) địa điểm Thị xã Sơn La vẫn là thị xã cũ để tập trung khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa.

   Thực hiện Nghị quyết Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa V kỳ họp thứ hai (12-1975) về bỏ cấp khu trong đơn vị hành chính của nước Việt Nam, Khu Tây Bắc giải thể. Tháng 6-1976, Tỉnh ủy quyết định các cơ quan hành chính sự nghiệp và các cơ sở sản xuất của tỉnh đóng ở Hát Lót, nơi di tản trong chiến tranh chuyển về Thị xã Sơn La. Thị xã Sơn La trở thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh.

   Để tạo điều kiện mở rộng và phát triển Thị xã, thực hiện Quyết định số 105-CP ngày 13-3-1979 của Hội đồng Chính phủ, sáp nhập 7 xã của huyện Mường La vào Thị xã Sơn La. Địa bàn Thị xã Sơn La lúc này gồm 2 khu phố: Chiềng Lề, Quyết Thắng và 8 xã: Chiềng Cơi, Chiềng An, Chiềng Xôm, Chiềng Ngần, Chiềng Sinh, Hua La, Chiềng Cọ, Chiềng Đen.

   Thực hiện Quyết định số 03-CP của Hội đồng Chính phủ về đơn vị hành chính cơ sở nội thành, nội thị của Thị xã gọi là phường, 2 khu phố: Chiềng Lề, Quyết Thắng đổi gọi thành phường Chiềng Lề và phường Quyết Thắng.

   Từ năm 1979 đến nay, diện tích của Thị xã không thay đổi, nhưng tên gọi có sự đổi thay vì đô thị được mở rộng. Năm 1998, phường Chiềng Lề được chia tách thành 2 phường: Chiềng Lề và Tô Hiệu; phường Quyết Thắng cũng tách thành 2 phường: Quyết Thắng và Quyết Tâm; các xã đổi thành phường là: Chiềng Cơi, Chiềng An, Chiềng Sinh. Năm 2008, Thị xã có đủ các chỉ tiêu về đô thị loại III nên ngày 03-9-2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2008/NĐ-CP công nhận Thị xã Sơn La trở thành thành phố trực thuộc tỉnh. Hiện nay, Thành phố Sơn La có 5 xã: Chiềng Xôm, Chiêng Ngần, Hua La, Chiềng Cọ, Chiềng Đen và 7 phường: Chiềng Lề, Tô Hiệu, Quyết Thắng, Quyết Tâm, Chiềng Cơi, Chiềng An, Chiềng Sinh.

 

                                                                BẢNG NỘI DUNG CHÚ THÍCH
 STT                                                                         NỘI DUNG
  (1) Mường phìa Chiềng An xưa bao gồm địa bàn các xã, phường ngày nay: Chiềng Xôm, Chiềng An, Chiềng Cơi, Chiềng Ngần, Chiềng Sinh, Chiềng Cọ, Chiềng Đen và Hua La
  (2) Thành lập ngày 04/9/1891, bao gồm: địa hạt Sơn La và các tổng Yên Lãng, Kiệt Sơn, Xuân Đài (tách ra từ huyện Thanh Sơn) và tổng Thắng (tách ra từ huyện Thanh Thủy, phủ Gia Hưng, tỉnh Hưng Hóa).
  (3) Địa bàn tỉnh Vạn Bú bao gồm: Phủ Vạn Yên với các châu: Phù Yên, Châu Mộc; Phủ Sơn La với các châu: Sơn La, Châu Yên, Mai Sơn, Châu Thuận, Tuần Giáo, Điện Biên, Châu Lai, Châu Luân, Quỳnh Nhai, Phong Thổ
  (4) Tên Thị trấn Chiềng Lề chưa rõ được thành lập từ khi nào, nhưng ngày 19/02/1959, Khu ủy Tây Bắc ra Quyết nghị số 42-QN/TB “Kiến lập Chi bộ thị trấn Chiềng Lề”, tài liệu lưu tại Huyện ủy Mường La
  (5) Nghị quyết hội nghị Ban Thường vụ Khu ủy họp ngày 20/7/1973 về địa điểm Thị xã Sơn La, tài liệu lưu tại Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sơn La